Đại Từ Quê Tôi

Lịch

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang web Đại Từ Tin Tức được mở ra có ý nghĩa gì?
Rất hữu ích cho người Đại Từ
Là địa chỉ tôi thường truy cập
Khá thú vị đối với tôi.
Tôi luôn ủng hộ trang web
Tôi muốn làm cộng tác viên với trang web Đại Từ Tin Tức

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    VOC_VUI_veduyen.swf Bay_giua_ngan_ha.swf TINHMEMT2.swf Tracnghiem8anhhk1new.swf

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Thời tiết Thái Nguyên

    Chào mừng quý vị đến với website của Chè Xanh Thái Nguyên

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Mỗi kỳ một câu chuyện >

    Linh mục Phạm Bá Trực- Người công giáo tiêu biểu của phong trào Yêu nước

    Tháng 10-2014 này, Hà Nội và cả nước tưng bừng kỷ niệm 60 năm ngày giải phóng Thủ đô (1954-2014). Đó cũng là dịp kỷ niệm 60 năm ngày mất của linh mục Phêrô Phạm Bá Trực (5-10-1954), một tấm gương tiêu biểu của phong trào yêu nước nơi người Công giáo giai đoạn kháng chiến chống Pháp.

                      Nơi an nghỉ của Linh mục Phero Phạm Bá Trực


             Linh mục Phạm Bá Trực sinh ngày 21-11-1898 tại làng Bạch Liên (tên cổ là làng Bồ Bát) thuộc xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Đây là một trong những xứ đạo cổ xưa, được đón nhận Tin mừng sớm ở miền Bắc thời giáo sĩ Alexandre de Rhodes, năm 1627. Linh mục Phạm Bá Trực là cháu nội của cụ Phạm Công ( Bát Cống) và là con của cụ cố Phạm Bình. Cố Phạm Bình sinh được 4 người con trai trong đó có 2 người thứ hai và ba là linh mục Phạm Bá Trực và ông Phạm Toàn đi tu, nhưng ông Phạm Toàn phải bỏ dở đường tận hiến vì tham gia vụ kiện bênh vực anh cả trong nhà.

              Cậu Trực được gia đình gửi vào chủng viện của giáo phận Tây Đàng Ngoài. Sau khi mãn khóa với thành tích xuất sắc, đúng vào dịp Tòa thánh gợi ý cho các giáo phận ở Việt Nam được gửi một số chủng sinh giỏi đi học Roma vậy là cậu Trực được Giám mục Gendreau Đông gửi đi du học cùng với Phạm Quang Huấn (Hà Nội), Ngô Đình Thục (Huế), Nguyễn Đình San (Phát Diệm)…từ năm 1916. Sau 9 năm chuyên cần học tập, cậu Trực đã lấy được 3 bằng Tiến sĩ về Giáo luật, Thần học và Văn chương. Do thành tích này, nên vua Khải Định ngỏ ý muốn tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh cho ông nhưng ông đã từ chối. Về nước, ông được thụ phong linh mục năm 1926 và cử về coi sóc xứ Kẻ Sét (Làng Tám, Hà Nội). Tại đây, linh mục Phạm Bá Trực mở một trường họ dạy văn hóa cho thanh thiếu niên trong miền. Năm 1927, linh mục Trực mang người cháu ở quê Phát Diệm lên học và nhận đỡ đầu. Đó chính là Phạm Đình Tụng (1919-2002), sau này là Hồng y Tổng Giám mục giáo tỉnh Hà Nội. Năm 1928, linh mục Phạm Bá Trực được bổ nhiệm là Giáo sư Đại chủng viện Kẻ Sở. Thời gian này, linh mục Trực dịch nhiều sách đạo đức để phổ biến cho cộng đoàn như cuốn “Linh hồn của mọi công tác Tông đồ” (L’âme de tout Apostolat). Năm 1929 được giao thêm quản xứ Khoan Vĩ (Lý Nhân, Hà Nam) và ở đây cho đến khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Dịp bầu cử Quốc hội khóa I năm 1946, linh mục Phạm Bá Trực xin phép Bề trên là Giám mục Chaize Thịnh ra ứng cử. Giám mục Chaize đồng ý và linh mục Phạm Bá Trực đã trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I và được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Thường trực Quốc hội tháng 3-1946 và đến tháng 5-1947 được bầu là Phó Ban Thường trực Quốc hội tương đương Phó Chủ tịch Quốc hội bây giờ. Trưởng ban lúc đó là cụ Bùi Bằng Đoàn. Năm 1951, trong Đại hội thống nhất Việt Minh- Liên Việt, linh mục Phạm Bá Trực được cử làm Phó Chủ tịch Ủy ban Liên Việt toàn quốc, rồi Ủy viên Hội Hữu nghị Việt – Hoa.

              Với trọng trách được giao, linh mục Phạm Bá Trực đã hoàn thành xuất sắc mọi công việc được giao phó. Linh mục Phạm Bá Trực soạn nhiều tài liệu, công văn, lời kêu gọi của Ban Thường trực Quốc hội. Đáng chú ý như các bài: “ Ta hãy vì Chúa, vì chính nghĩa mà kháng chiến oanh liệt” đăng trên báo Sự thật đúng ngày Giáng sinh năm 1948. Bài báo đầy nhiệt huyết của một mục tử, từng du học nước ngoài:

              “Nên ta hãy vì Chúa, vì chính nghĩa mà kháng chiến oanh liệt cho đến khi tống cổ quân xâm lăng ra khỏi nước ta, đó là ý ngay đẹp lòng Chúa, dưới thế ta sẽ hưởng hòa bình. Chúa Cơ Đốc “Pax hominibus bone voluntatis”. Nhân dịp lễ Giáng sinh Chúa, ta hãy nhớ đến các anh em ta đã bỏ mình vì Tổ quốc, các chiến sĩ đa hy sinh đang lăn lộn cản quân xâm lăng ở tiền tuyến “Plete cum plentibus”. Hãy cầu nguyện cho Tổ quốc ta mau toàn thắng và cùng Hội Thánh ca ngợi Chúa và chúc nhau: “ Gloria in excelcis Deo, et in terra pax homimibus bonoe voluntatis”.

              Sau khi cùng phái đoàn Liên Việt đi thăm Trung Quốc và Triều Tiên về nước, đầu năm 1952, Linh mục Phạm Bá Trực lại gửi thư kêu gọi đồng bào Công giáo tích cực tham gia kháng chiến với niềm tin quyết thắng:

              “Trong những năm qua giữa cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ, chúng ta đã được bồi dưỡng tinh thần và thêm nhiều kinh nghiệm, chúng ta càng thêm tin tưởng chắc chắn vào sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chủ tịch và Chính phủ kháng chiến. Thắng lợi cuối cùng sẽ về ta” (1).

              Linh mục Phạm Bá Trực cũng gửi thư cho các ngụy binh là người Công giáo, kêu gọi họ hối cả quay súng trở về với nhân dân. Lá thư rất cảm động:

              “ Anh em ra trận chỉ làm dịp cho thực dân ăn cướp, hại đồng bào, nồi da nấu thịt, làm dịp cho toàn dân nguyền rủa vì trước thực dân đã lợi dụng Đạo mà cướp nước ta, nay lại lợi dụng Đạo mà cướp nước ta lại một lần nữa… Vậy hỡi anh em ngụy binh Công giáo, anh em hãy nhớ lời thánh Paulô bảo ta phải vâng phục chính quyền nước ta là chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh, mau mau đoàn kết trở lại với Tổ quốc độc lập thống nhất, sự đạo sẽ tự do và mở mang” (2).

              Năm 1954, nhiều người Công giáo bị lừa gạt và xúi giục di cư vào Nam vì sợ ở lại sẽ mất đạo. Linh mục Phạm Bá Trực đã lên tiếng rất quả quyết:

              “Tôi nhân danh một người đại biểu Công giáo trong Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng tuyên bố rằng: Chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của Chính phủ, chính sách khoan hồng của Chính phủ trước sau như một. Chính phủ ta là Chính phủ nhân dân, làm việc gì cũng phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân chứ không bao giờ làm điều gì trái với quyền lợi, nguyện vọng của nhân dân”(3).

              Những năm kháng chiến, linh mục Trực di chuyển nhiều xứ, lúc ở Kẻ Chuôn, lúc ở Thái Nguyên, khi về Hà Đông. Ở đâu, linh mục Trực cũng chu toàn mục vụ và chăm lo truyền nghề đan lát, làm nón cho dân cư trong vùng. Năm 1946, thực hiện chính sách tiêu thổ kháng chiến, linh mục Trực đồng ý cho phá nhà thờ Hà Đông nhưng sau thay đổi kế hoạch nên hủy bỏ.

              Khi ở chiến khu Việt Bắc, các linh mục luôn được sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, linh mục Vũ Xuân Kỷ kể lại:

              “Cha Phạm Bá Trực, Phó Trưởng ban Thường vụ Quốc hội bị bệnh 2 năm liền, không mấy chủ nhật Hồ Chủ tịch không đến thăm, tuy công việc của Người rất bộn bề. Người ra lệnh cho các bác sĩ, y sĩ phục vụ cha Trực phải đến báo cáo luôn luôn với Người về bệnh tình cha Trực. Đến lúc bệnh cha Trực quá trầm trọng không còn phương cứu chữa, mất đi, Hồ Chủ tịch rất thương xót, Người đã vừa khóc vừa viết điếu văn và cử một Bộ trưởng đến đọc thay Người” (4).

              Vì bệnh tim trầm trọng, linh mục Phạm Bá Trực đã qua đời ngày 5-10-1954 tại Đại Từ, Thái Nguyên, chỉ 5 ngày trước khi quân ta tiến vào Hà Nội. Trong lễ truy điệu ngày 7-5-1954 có 3 điếu văn của Chủ tịch Liên Việt Tôn Đức Thắng, của linh mục Vũ Xuân Kỷ- Chủ tịch Ủy ban Liên lạc kháng chiến Liên khu III, đặc biệt điếu văn của Hồ Chủ tịch do Bộ trưởng Phan Anh đọc gây xúc động lớn. Điếu văn viết:

              “Từ ngày nhân dân tin cậy cử Cụ làm đại biểu Quốc hội và Quốc hội cử Cụ vào Ban Thường trực, Cụ đã đưa hết tinh thần và lực lượng giúp Chínhphủ trong mọi vấn đề quan trọng. Trong mọi việc, Cụ đã kết hợp đạo đức bác ái theo lời Chúa dạy, với tinh thần nồng nà yêu nước của người đại biểu chân chính của nhân dân Việt Nam.

            Nay Cụ mất đi, Chính phủ và nhân dân vô cùng thương xót.

    Trong lúc ốm nặng, Cụ thường nói với tôi: Mong trông thấy kháng chiến thắng lợi thì dù chết Cụ cũng thỏa lòng.

    Nay hòa bình đã trở lại, Cụ đã thõa lòng. Nhưng tiếc rằng Cụ không còn để giúp nước, giúp dân” (5).

              Có đọc những dòng này, mới thấy Hồ Chủ tịch đánh giá cao công trạng của linh mục Phạm Bá Trực và chúng ta mới hiểu một linh mục học bài bản ở Rôma lại dấn thân cho cách mạng trong khi đó Vatican đang đầy tinh thần chống cộng.

              Ngày 20-11-1954, lễ cầu hồn cho linh mục Trực đã được tổ chức trang trọng ở nhà thờ lớn Hà Nội với sự có mặt của nhiều quan chức cao cấp đạo - đời và 4000 giáo dân.

              Nhân đây cũng nói thêm rằng, tin đồn linh mục Trực bị giáo hội phạt treo chén là không có cơ sở. Linh mục Trực khi ứng cử Quốc hội cũng như đi kháng chiến đều xin phép Giám mục và cam kết khi kháng chiến thành công sẽ trở về làm mục vụ. Lá thư của Giám mục Trịnh Như Khuê gửi Khâm sứ Dooley ngày 5-9-1955 viết:

              “ Cha Phạm Bá Trực đã đi với phép của Đức cha Thịnh (Chaize), vị tiền nhiệm của tôi, còn cha Vũ Xuân Kỷ có thể là tự ý ra đi. Khi nhận chức Giám mục, tôi chưa bao giờ gặp hai vị này…Cho tới nay, hai vị tiền nhiệm là Đức cha Thịnh và tôi nữa, chúng tôi chưa ra án phạt họ. Tôi tưởng trước hết hãy xem và nghe họ, những tin tức tôi lượm được về họ, thì hồ đồ và những điều phao tin về họ thường là gian dối” (6).

              Nhân 60 năm ngày giải phóng Thủ đô và cũng là 60 năm ngày mất của linh mục Phạm Bá Trực, người viết bài này chỉ có một băn khoăn là sao thành phố Hà Nội vẫn chưa có tên đường mang tên linh mục trong khi Thái Nguyên và Hải Phòng đã có. Một tên đường mang tên linh mục Phạm Bá Trực có lẽ cũng là cách ghi nhận công lao của vị linh mục yêu nước này, một người Công giáo được giữ chức vụ cao cấp nhất trong Quốc hội và Nhà nước Việt Nam từ trước tới nay.

     

                                            TS. Phạm Huy Thông


    Chú thích:

    1-Thư gửi đồng bào Công giáo, báo Cứu quốc ngày 15-1-1952

    2-Lời kêu gọi ngụy binh Công giáo, báo Cứu quốc ngày 1-6-1951

    3-Kỷ yếu Hội thảo về linh mục Phạm Bá Trực tại Thái Nguyên, Nxb Từ điển Bách khoa 2011, tr.117-118

    4- Báo Cứu quốc số 1708, ngày 15-5-1955

    5- Báo Nhân dân số 237, ngày 11-10-1954

    6- Hồng Nhuệ- Nguyễn Khắc Xuyên: Lịch sử địa phận Hà Nội 1954-1994, Lưu hành nội bộ 1994, tr.19


    Nhắn tin cho tác giả
    Đại Từ Tin Tức @ 02:18 06/10/2014
    Số lượt xem: 702
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Video-Clip-Phim

    Lịch phát sóng TV

    Thời tiết Thái Nguyên