Gốc > Mục:Sự Kiện-Bình Luận >
title:Vụ thảm sát Noong Nhai: Câu chuyện ít người biết xung quanh chiến thắng Điện Biên Phủ 07/05
date:08-05-2013
sender:Nguyễn Tiến Phong

         


               Vụ thảm sát Noong Nhai của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ.

 

    .Có lẽ rất ít người biết đến vụ thảm sát Noong Nhai mà thực dân Pháp tàn bạo đã gây ra cho người dân Điện Biên, nó được xem như 1 vuk thảm sát tương tự như vụ thảm sát Mỹ Lai mà đế quốc Mỹ gây ra cho người dân thương fvo tội ở Quảng Nam năm xưa. Và hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, không chỉ người dân huyện Điện Biên mà còn rất nhiều người dân trong cả nước và thế giới vẫn còn nhớ như in về thảm họa Noong Nhai trong thời khắc chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đang cận kề như một nỗi đau khó phai mờ.

nnv
Đài tưởng niệm Hận thù Noong Nhai

Cho đến bây giờ, ông Lò Văn Inh, ở bản Noong Nhai 1, xã Thanh Xương, huyện Điện Biên vẫn nhớ như in cảnh thực dân Pháp dùng máy bay thả bom sát hại dân thường tại Trại tập trung Noong Nhai vào lúc 14 giờ chiều ngày 25/4/1954, lúc đó ông mới 16 tuổi.

Trại tập trung Noong Nhai có diện tích chưa đầy 10 ha, nhưng thực dân Pháp đã dồn hơn 3.000 dân từ các xã Noong Luống, Sam Mứn, Noong Hẹt, Thanh An, Thanh Xương về đây để cách ly không cho đồng bào tiếp tế, giúp đỡ bộ đội. Khi chiến dịch Điện Biên Phủ bước vào đợt tấn công thứ 2 của quân ta, cay cú trước những thất bại trên chiến trường, thực dân Pháp đã điên cuồng dùng máy bay thả bom Napan xuống khu vực người dân đang tập trung đưa tang một người xấu số chết vì bị bệnh thương hàn. Trong lần giải bom này, đã làm cho 444 dân thường chết cháy và hàng trăm người, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em bị thương, trong đó nhiều người bị tàn phế suốt đời.

bfb
Ông Lò Văn Inh cùng với cô con gái của mình đến thắp nén nhang cho người thân bị chết trong vụ thảm sát

Ông Lò Văn Inh, một nhân chứng lịch sử trong thảm họa Noong Nhai, hôm nay cùng với cô con gái của mình đến thắp nén nhang cho người thân bị chết trong vụ thảm sát, lòng tiếc thương vô hạn tưởng nhớ người thân và sự phẫn nộ, căm hờn trước hành động dã man, tàn bạo của bọn thực dân. Mặc dù chiến tranh đã trôi qua hơn nửa thế kỷ nhưng người dân Điện Biên nói chung và người dân Noong Nhai nói riêng vẫn không nguôi ngoai được nỗi đau mất mát, sự tủi nhục của một thời mất tự do dưới ách đô hộ của đế quốc, thực dân.

Ngày nay, khu tưởng niệm những người dân vô tội bị chết bởi bom đạn của giặc Pháp năm nào đã được xây dựng bên quốc lộ 279 - con đường xuyên Á sang nước bạn Lào, thuộc địa phận xã Thanh Xương. Nổi bật ở khu tưởng niệm là bức tượng người phụ nữ Thái bế đứa con đã bị bom giặc giết chết trên tay, thể hiện nỗi đau mất con của những người mẹ và qua đó, gửi thông điệp, nhắc nhở đến thế hệ con cháu hôm nay mãi nhớ về lịch sử

 

Duy Sinh – Tiến Dũng


*************************************************************

               Tìm hiểu về chiến dịch Điện Biên Phủ

 

                               Kế hoạch Navarre

Đến cuối năm 1953, Chiến tranh Đông Dươngđã kéo dài 9 năm, thực dân Pháp lâm vào thế bị động trên chiến trường. Trong khi đó, chính phủ Việt Nam Dân chu Cộng hòa đã thiết lập được quyền kiểm soát vững chắc tại nhiều khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên, khu 5, các tỉnh Cao Bắc Lạng... và nhiều khu vực ở đồng bằng Bắc bộ. Nước Pháp hầu như không còn đủ sức chịu đựng gánh nặng chiến tranh Đông Dương và đã phải cầu viện sự trợ giúp của Hoa Kỳ.

Kết quả là tới năm 1954, 78% chiến phí của Pháp ở Đông Dương là do Hoa Kỳ chi trả. Tới năm 1953, viện trợ Mỹ cả kinh tế và quân sự đã lên tới 2,7 tỷ trong đó viện trợ quân sự là 1,7 tỷ đôla, năm 1954 Mỹ viện trợ thêm 1,3 tỷ đô la nữa. Tổng cộng Mỹ đã cung cấp cho Pháp trên 40 vạn tấn vũ khí, gồm 360 máy bay, 347 tàu thuyền các loại, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 16.000 xe vận tải, 17,5 vạn súng cá nhân.

Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ nơi nào kiểm tra tình hình không cần sự chấp thuận của Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp. Sự phụ thuộc quá nhiều của Pháp vào Mỹ khiến tướng Henri Navarre than phiền trong hồi ký: "Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ."[

Chính phủ Pháp muốn tìm một giải pháp hòa bình có thể chấp nhận được để chấm dứt cuộc chiến nhưng mặt khác họ muốn duy trì quyền lợi tại Đông Dương. Cuộc chiến sang năm thứ 9 đã chứng tỏ Pháp chỉ còn cách duy nhất là tìm một "lối thoát danh dự", nếu không muốn dâng Đông Dương cho Mỹ. Các lãnh đạo Việt Minh nhận định việc Mỹ trực tiếp can thiệp vào chiến tranh Đông Dương chỉ còn là vấn đề thời gian 1-2 năm. Việt Minh cũng dự đoán, nếu tình hình Triều Tiên tạm ổn định, Mỹ sẽ dồn những nỗ lực chống Cộng vào Đông Dương.

Ngày 24 tháng 7 năm 1953, thủ tướng chính phủ Quốc gia Việt Nam Nguyễn Văn Tâm được Tổng thống Dwight D. Eisenhower mời sang Hoa Kỳ. Cuối tháng 7, Eisenhower quyết định dành 400 triệu đô la cho Đông Dương để "tổ chức một quân đội Việt Nam thực sự". Pháp đề nghị Mỹ viện trợ 650 triệu đô la cho niên khóa 1953, và được chấp nhận 385 triệu. Mỹ hứa năm 1954 sẽ tăng viện trợ cho Pháp tại Đông Dương lên gấp đôi. Mỹ cũng chuyển giao cho Pháp nhiều trang bị, vũ khí, trong đó có 123 máy bay và 212 tàu chiến các loại.

Pháp bổ nhiệm tổng chỉ huy Henri Navarre sang Đông Dương tìm kiếm một chiến thắng quân sự quyết định để làm cơ sở cho một cuộc thảo luận hòa bình trên thế mạnh. Kế hoạch của bộ chỉ huy Pháp tại Đông Dương gồm hai bước:

Để thực hiện kế hoạch này, người Pháp cho tiến hành xây dựng và tập trung lực lượng cơ động lớn, mở rộng lực lượng phụ lực quân (Forces suppletives) bản xứ và Quân đội Quốc gia Việt Nam, càn quét bình định vùng kiểm soát. Thực hành tấn công chiến lược ở vùng Khu V, Navarre được chính phủ Pháp cấp thêm cho 9 tiểu đoàn tinh nhuệ. Điều quan trọng hơn, Kế hoạch Navarre được Mỹ tán thành. Viện trợ Mỹ tăng vọt, chiếm đại đa số chi phí chiến tranh của Pháp.

Kế hoạch Navarre chỉ gặp trở ngại khi bộ trưởng tài chính Edgar Faure nêu ra việc thực thi kế hoạch phải chi ít nhất là 100 tỉ Franc. Ở Hội đồng Tham mưu trưởng cũng như Hội đồng Quốc phòng Mỹ, người ta bàn nên bớt cho Navarre nhiệm vụ bảo vệ nước Lào đề ra trong kế hoạch, để giảm bớt chi tiêu, nhưng Pháp không muốn bỏ Lào. Thống chế Alphonse Juin, người phát ngôn của các tham mưu trưởng, nhấn mạnh: cần trao cho Bộ Ngoại giao yêu cầu Mỹ và Anh phải bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của Lào, đồng thời lưu ý Liên Xô và Trung Quốc nguy cơ xung đột quốc tế có thể diễn ra nếu Lào bị chiếm. Navarre xác nhận nếu QĐNDVN đánh Thượng Lào thì ông không thể đương đầu được, Navarre yêu cầu chính phủ ra chỉ thị rõ rệt nếu trường hợp đó xảy ra. Điều đó liên quan mật thiết đến việc xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sau này.

Chiến cục Đông-Xuân 1953-1954

Trước mùa khô 1953-1954, so sánh lực lượng về quân số, Pháp đã vượt lên khá xa. Tổng quân số của Pháp là 445.000 người, gồm 146.000 quân Âu Phi (33%) và 299.000 quân Việt (67%). Tổng quân số của QĐNDVN là 252.000 người. Như vậy, quân Pháp đông hơn 193.000 người. Chỉ riêng lực lượng phụ lực quân bản xứ do các sĩ quan Pháp chỉ huy cũng đã đông hơn 47.000 người.

Lực lượng cụ thể 2 bên lúc này như sau:

- Về bộ binh, Pháp có 267 tiểu đoàn. Về pháo binh, Pháp có 25 tiểu đoàn; quân phụ lực bản xứ có 8 tiểu đoàn. Về cơ giới, Pháp có 10 trung đoàn, 6 tiểu đoàn và 10 đại đội; quân phụ lực bản xứ có 1 trung đoàn và 7 đại đội. Về không quân, Pháp có 580 máy bay; quân phụ lực bản xứ có 25 máy bay thám thính và liên lạc. Về hải quân, Pháp có 391 tàu; quân phụ lực bản xứ có 104 tàu loại nhỏ và 8 tàu ngư lôi. Lực lượng QĐNDVN vẫn đơn thuần là bộ binh, gồm 6 đại đoàn, 18 trung đoàn và 19 tiểu đoàn. Về pháo binh, QĐNDVN có 2 trung đoàn, 8 tiểu đoàn và 4 đại đội. Về phòng không, QĐNDVN có 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn.

- Tính theo số tiểu đoàn bộ binh, QĐNDVN có tổng cộng 127 tiểu đoàn so với 267 tiểu đoàn của Pháp. Biên chế tiểu đoàn của QĐNDVN là 635 người; biên chế tiểu đoàn Pháp từ 800 - 1.000 người.

Về viện trợ, từ tháng 6 năm 1950 đến tháng 6 năm 1954, Việt Minh nhận được từ Liên Xô, Trung Quốc tổng cộng 21.517 tấn các loại, trị giá 34 triệu đôla. Giá trị này chỉ bằng 0,85% lượng viện trợ mà Mỹ cấp cho Pháp.

Pháp tuy có ưu thế vượt trội về binh lực, nhưng thế trận chiến tranh nhân dân của QĐNDVN đã làm cho Pháp phải phân tán trên khắp các chiến trường. Không những Pháp không thể tập trung toàn bộ ưu thế đó vào một trận đánh quyết định, mà cũng chưa đủ lực lượng để mở một cuộc tiến công lớn vào các đại đoàn chủ lực QĐNDVN trên miền Bắc. Trong tổng số 267 tiểu đoàn, thì 185 tiểu đoàn đã phải trực tiếp làm nhiệm vụ chiếm đóng, chỉ còn 82 tiểu đoàn làm nhiệm vụ cơ động chiến thuật và chiến lược. Già nửa lực lượng cơ động Pháp, 44 tiểu đoàn, phải tập trung trên miền Bắc để đối phó với chủ lực QĐNDVN. Vào thời điểm này, nếu tính chung trên chiến trường Bắc Bộ, lực lượng QĐNDVN mới bằng 2/3 lực lượng Pháp (76 tiểu đoàn/112 tiểu đoàn), nhưng tính riêng lực lượng cơ động chiến lược, thì lực lượng QĐNDVN đã vượt hơn về số tiểu đoàn (56/44).

 

 

Các lãnh đạo Việt Minh từ trái qua: Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp

Cuối tháng 8 năm 1953, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam báo cáo với Tổng quân ủy một bản kế hoạch tác chiến với bốn nhiệm vụ:

  1. Đẩy mạnh chiến tranh du kích ở địch hậu phá tan âm mưu bình định của địch, phá kế hoạch mở rộng quân ngụy Việt.
  2. Bộ đội chủ lực dùng phương thức hoạt động thích hợp tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, có thể tác chiến lớn trên chiến trường đồng bằng để rèn luyện bộ đội.
  3. Có kế hoạch bố trí lực lượng tiêu diệt địch khi chúng đánh ra vùng tự do.
  4. Tăng cường hoạt động lên hướng Tây Bắc (Lai Châu), Thượng Lào và các chiến trường khác để phân tán chủ lực địch.

Trong cuộc họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: "Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn."

Theo đó QĐNDVN sẽ mở một loạt chiến dịch tại nhiều vùng để phân tán binh lực địch, không cho quân Pháp co cụm tạo thành một lực lượng cơ động đủ mạnh để xoay chuyển tình thế.

Thiết lập "Con nhím" Điện Biên Phủ

 

 

Quân đội viễn chinh Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ

Hội chứng Thượng Lào, trong đó có kinh đô Luông Phabăng, luôn luôn ám ảnh Navarre. Nếu cả miền cực Bắc Đông Dương rơi vào quyền kiểm soát của Việt Minh sẽ là một nguy cơ lớn cho cuộc chiến tranh. Nó sẽ mang lại những ảnh hưởng chính trị tai hại, vì nước Pháp bất lực trong việc bảo vệ các quốc gia liên kết. Tướng René Cogny, Tư lệnh Bắc Bộ, nhiệt liệt tán đồng ý kiến này.

Điện Biên Phủ là một thung lũng phì nhiêu ở Tây Bắc Việt Nam. Dài 15 km, rộng 5 km, giữa thung lũng có sông Nậm Rốm chảy qua cánh đồng do người Thái cầy cấy. Một sân bay bỏ phế từ lâu, có từ thời Nhật, nằm dọc theo sông Nậm Rốm về phía bắc lòng chảo. Điện Biên Phủ cách Hà Nội 300 km về phía tây, cách Lai Châu 80 km về phía nam. Xung quanh là núi đồi trập trùng bao quanh tứ phía, rừng già khắp nơi làm chỗ ẩn náu dễ dàng cho quân du kích. Cũng như Lai Châu và Nà Sản, Điện Biên Phủ là một điểm chiến lược bảo vệ tây bắc Lào và thủ đô Vạn Tượng (Luang Prabang). Tướng Cogny nhấn mạnh: Điện Biên Phủ là một căn cứ bộ binh - không quân (base aéroterrestre) lý tưởng, là "chiếc chìa khoá" của Thượng Lào.

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được ra đời án ngữ miền Tây Bắc Việt Nam, kiểm soát liên thông với Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân chủ lực Việt Minh tấn công và, theo kế hoạch của Pháp, quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đó.

Ngày 2 tháng 11 năm 1953, Navarre đã chỉ thị cho Cogny từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 11, chậm nhất là ngày 1 tháng 12, phải đánh chiếm Điện Biên Phủ để thiết lập một điểm ngăn chặn bảo vệ cho Thượng Lào. Cuộc hành binh đánh chiếm Điện Biên Phủ có bí danh là "Hải Ly" (Cuộc hành quân Castor), chỉ huy là tướng Jean Gilles.

Ngày 20 tháng 11, lúc 11 giờ sáng, 63 chuyến máy bay C-47 Dakota thả 3.000 lính dù và chiến cụ xuống Điện Biên Phủ. Thiếu tá Marcel Bigeard và Tiểu đoàn 6 Dù thuộc địa (6e BPC) nhảy xuống điểm DZ (dropping zone) Tây Bắc, Thiếu tá Jean Bréchignac và Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Dù nhẹ số 1 (II/1er RCP) nhảy xuống điểm DZ phía nam. Tiểu đoàn của Bigeard nhảy trúng khu vực có 1 tiểu đoàn QĐNDVN đang tập dượt nên bị chống cự mãnh liệt. Máy bay Pháp phải yểm trợ đến 4 giờ chiều QĐNDVN mới rút lui với tổn thất vài chục người. Pháp thiệt hại 16 người chết, 47 bị thương.

Hai ngày sau, ngày 21 và 22 tháng 11, liên tiếp 3 tiểu đoàn Dù nữa được thả xuống cùng với một đại đội pháo binh. Ngày 24 tháng 11, phi đạo được sửa chữa xong, phi cơ lại đáp xuống được. Vậy là từ ngày 20 tới ngày 22 tháng 11 năm 1953, Pháp đã ném xuống cánh đồng Mường Thanh 6 tiểu đoàn dù, khoảng 4.500 quân.

 

 

Đại tá Christian de Castries

Ngày 3 tháng 12 năm 1953, Navarre đã quyết định "chấp nhận chiến đấu ở Điện Biên Phủ". Phương Tây coi đây là một sự chuyển hướng có tính chiến lược của Navarre, vì Điện Biên Phủ không nằm trong kế hoạch mùa khô 1953 - 1954. Ngày 7 tháng 12, Đại tá Christian de Castries được Cogny và Navarre chỉ định chỉ huy tập đoàn cứ điểm, chuẩn bị đương đầu với một cuộc tiến công. Có người hỏi Navarre vì sao lại trao quyền chỉ huy Điện Biên Phủ đáng lẽ phải là một viên tướng, cho một đại tá? Navarre trả lời: "Cả tôi lẫn Cogny đều không trông lon mà xét người nên cũng chẳng sùng bái gì lắm mấy ngôi sao cấp tướng. Tôi khẳng định: trong số các chỉ huy được lựa chọn, không ai có thể làm giỏi hơn Castries".

Ngày 15 tháng 12, lực lượng Pháp ở Điện Biên Phủ tiếp tục tăng lên 11 tiểu đoàn. Ngày 24 tháng 12, Navarre tới Điện Biên Phủ dự lễ Giáng sinh với quân đồn trú. Tại Điện Biên Phủ, một tập đoàn cứ điểm đã xuất hiện, chạy suốt chiều dài cánh đồng Mường Thanh, hai bên bờ sông Nậm Rốm.

Sau này có những ý kiến chỉ trích các tướng lĩnh Pháp đã "mắc một lỗi sơ đẳng" khi thiết lập một căn cứ ở nơi quá xa xôi hẻo lánh, dễ bị bao vây cô lập để rồi bại trận. Nhưng ở vào thời điểm đó, với những yêu cầu chiến lược và chính trị của Pháp trong cuộc chiến (phải giữ bằng được Lào), thì việc thiết lập này là yêu cầu tất yếu và không thể khác được, như Navarre đã viết: "Có cần bảo vệ Lào hay không? Tôi thì chỉ còn một cách chấp nhận phương án chiến đấu ở Điện Biên Phủ.”.

Hơn nữa, các chỉ huy Pháp tin rằng lợi thế công nghệ vượt trội và sự trợ giúp của Mỹ sẽ giúp họ đánh bại được QĐNDVN vốn có trang bị thô sơ hơn nhiều. Jean Pouget sĩ quan tùy tùng của Tổng chỉ huy Navarre, viết: "...có thể khẳng định là không một ai trong số hơn 50 chính khách, các tướng lĩnh đã tới thăm Điện Biên Phủ, phát hiện được cái thế thua đã phơi bày sẵn...". Tướng Navarre viết: “Theo ông de Chevigné vừa ở đó về 2-3 “thật là bất khả xâm phạm. Vả lại, họ không dám tiến công đâu.”. Tướng Cogny thì tin tưởng: “Chúng ta đến đây là buộc Việt Minh phải giao chiến, không nên làm gì thêm để họ phải sợ mà lảng đi”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét: “Tới lúc này, quân đồn trú ở Điện Biên Phủ vẫn có thể mở một con đường rút lui. Vì sao Navarre không làm điều đó khi thấy nguy cơ một trận đánh sẽ xảy ra? Theo tôi, Navarre vẫn muốn Điện Biên Phủ sẽ làm vai trò "chiếc nhọt tụ độc" trên miền Bắc.”. Theo đó, Điện Biên Phủ ra đời nhằm thu hút chủ lực QĐNDVN, tại đó Pháp sẽ dùng ưu thế hỏa lực vượt trội để tiêu diệt. Nhưng thực ra, Navarre đã bị cuốn theo các hoạt động trong Chiến cục đông-xuân 1953-1954 của QĐNDVN mà ông không hề biết. Trận đánh xảy ra không bất ngờ mà nó đã nằm trong dự tính của QĐNDVN về một thắng lợi quyết định để kết thúc chiến tranh.

Quyết tâm của Việt Nam

Về phía Việt Nam, kể từ sau năm 1950 do nối thông biên giới với Trung Quốc, lại được sự viện trợ quân sự to lớn của Trung Quốc và Liên Xô, QĐNDVN đã lớn mạnh rất nhiều, với các sư đoàn (đại đoàn) bộ binh và các trung đoàn pháo binh, công binh đã có kinh nghiệm đánh tiêu diệt cấp tiểu đoàn của quân Pháp trong phòng ngự kiên cố.

Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam nhìn nhận trận Điện Biên Phủ như cơ hội đánh tiêu diệt lớn, tạo chiến thắng vang dội để từ đó chấm dứt kháng chiến trường kỳ, và đã chấp nhận thách thức của quân Pháp để tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là trận quyết chiến chiến lược của QĐNDVN. Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm: "Tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để tạo nên một bước ngoặt mới trong chiến tranh, trước khi đế quốc Mỹ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương."

Thời gian hoạt động ở Tây Bắc sẽ chia làm hai đợt:


Quân đội Nhân dân Việt Nam

Lực lượng QĐNDVN tham gia gồm 11 trung đoàn bộ binh thuộc các đại đoàn bộ binh (304, 308, 312, 316), 1 trung đoàn công binh, 1 trung đoàn pháo binh 105 ly (24 khẩu), 1 trung đoàn pháo binh 75 ly (24 khẩu) và súng cối 120 ly (16 khẩu), 1 trung đoàn cao xạ 24 khẩu 37 ly (367)(sau được tăng thêm một tiểu đoàn 12 khẩu) vốn là phối thuộc của đại đoàn công pháo 351 (công binh – pháo binh). Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh chiến dịch. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Thiếu tướng Đặng Kim Giang làm Chủ nhiệm cung cấp chiến dịch. Ông Lê Liêm làm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch.

Bộ chỉ huy Đại đoàn Trung đoàn Tiểu đoàn Ghi chú
Bộ chỉ huy chiến dịch
Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy: Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Hoàng Văn Thái
Chủ nhiệm cung cấp: Thiếu tướng Đặng Kim Giang
Chủ nhiệm chính trị: Lê Liêm
Đại đoàn bộ binh 304 (thiếu)
Danh hiệu: Vinh Quang
Mật danh: Nam Định
Tư lệnh: Đại tá Hoàng Minh Thảo
Chính ủy: Lê Chưởng
Tham mưu trưởng: Nam Long
Trung đoàn bộ binh 9
Chỉ huy: Trần Thanh Tú
Tiểu đoàn 353
Tiểu đoàn 375
Tiểu đoàn 400
Tham gia từ đợt 3
Trung đoàn bộ binh 57
Chỉ huy: Nguyễn Cận
Tiểu đoàn 265
Tiểu đoàn 346
Tiểu đoàn 418
 
Đại đoàn bộ binh 308
Danh hiệu: Quân Tiên Phong
Mật danh: Việt Bắc
Tư lệnh: Đại tá Vương Thừa Vũ
Chính ủy: Song Hào
Tham mưu trưởng: Nguyễn Hải
Trung đoàn bộ binh 36
Danh hiệu: Bắc Bắc
Mật danh: Sa Pa
Chỉ huy: Phạm Hồng Sơn
Tiểu đoàn 80
Tiểu đoàn 84
Tiểu đoàn 89
 
Trung đoàn bộ binh 88
Danh hiệu: Tu Vũ
Mật danh: Tam Đảo
Chỉ huy: Nam Hà
Tiểu đoàn 23
Tiểu đoàn 29
Tiểu đoàn 322
 
Trung đoàn bộ binh 102
Danh hiệu: Thủ đô
Mật danh: Ba Vì
Chỉ huy: Nguyễn Hùng Sinh
Tiểu đoàn 18
Tiểu đoàn 54
Tiểu đoàn 79
 
Đại đoàn bộ binh 312
Danh hiệu: Chiến Thắng
Mật danh: Bến Tre
Tư lệnh: Lê Trọng Tấn
Chính ủy: Trần Độ
Tham mưu trưởng: Hoàng Kiện
Trung đoàn bộ binh 141
Danh hiệu:
Mật danh:
Chỉ huy: Quang Tuyến
Tiểu đoàn 11
Tiểu đoàn 16
Tiểu đoàn 428
 
Trung đoàn bộ binh 165
Danh hiệu: Lao Hà Yên, Thành đồng biên giới
Mật danh: Đông Triều
Chỉ huy: Lê Thùy
Tiểu đoàn 115
Tiểu đoàn 542
Tiểu đoàn 564
 
Trung đoàn bộ binh 209
Danh hiệu: Sông Lô
Mật danh:
Chỉ huy: Hoàng Cầm
Tiểu đoàn 130
Tiểu đoàn 154
Tiểu đoàn 166
 
Đại đoàn bộ binh 316
Danh hiệu: Bông Lau
Mật danh: Biên Hòa
Tư lệnh: Đại tá Lê Quảng Ba
Chính ủy Chu Huy Mân
Tham mưu trưởng: Vũ Lập
Trung đoàn bộ binh 98
Danh hiệu:
Mật danh:
Chỉ huy: Vũ Lăng
Tiểu đoàn 215
Tiểu đoàn 439
Tiểu đoàn 938
 
Trung đoàn bộ binh 174
Danh hiệu: Cao Bắc Lạng
Mật danh: Sóc Trăng
Chỉ huy Nguyễn Hữu An
Tiểu đoàn 249
Tiểu đoàn 251
Tiểu đoàn 255
 
Trung đoàn bộ binh 176
Danh hiệu:
Mật danh:
Chỉ huy:
Tiểu đoàn 888
Tiểu đoàn 910
Tiểu đoàn 999
Tiểu đoàn 888 từ đợt 2
Còn lại từ đợt 3
Đại đoàn công pháo 351
Danh hiệu:
Mật danh: Long Châu
Tư lệnh: Đào Văn Trường (quyền)
Chính ủy Phạm Ngọc Mậu
Trung đoàn pháo binh 45
Danh hiệu: Tất Thắng
Mật danh:
Chỉ huy: Nguyễn Hữu Mỹ
Tiểu đoàn 632
Tiểu đoàn 954
24 lựu pháo 105mm
Trung đoàn pháo binh 675
Danh hiệu: Anh Dũng
Mật danh:
Chỉ huy: Doãn Tuế
Tiểu đoàn 175
Tiểu đoàn 275
20 sơn pháo 75mm
Trung đoàn pháo binh 237
Danh hiệu:
Mật danh:
Chỉ huy:
Tiểu đoàn súng cối 413
Tiểu đoàn hoả tiễn H6
Tiểu đoàn ĐKZ 75mm
54 súng cối 82mm
12 pháo phản lực H6 75mm
 ? ĐKZ 75mm
Tiểu đoàn 413 từ đợt 1
Còn lại từ đợt 3
Tiểu đoàn súng cối 83
Danh hiệu:
Mật danh:
20 súng cối 120mm
Trung đoàn cao xạ 367 (thiếu)
Danh hiệu:
Mật danh:
Chỉ huy: Lê Văn Tri
2 tiểu đoàn cao xạ 37mm 24 cao xạ 37mm
Sau tăng cường thêm 1 tiểu đoàn
Trung đoàn công binh 151
Danh hiệu:
Mật danh
Chỉ huy: Phạm Hoàng
4 tiểu đoàn công binh  

Quân đội Liên hiệp Pháp

Cách sắp xếp của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ vào tháng 3 năm 1954. Quân đội Pháp nằm trên vài đồi được củng cố (màu xanh).

Lực lượng quân Pháp ở Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh (trong quá trình chiến dịch được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội lính nhảy dù), 2 tiểu đoàn pháo binh 105 ly (24 khẩu - sau đợt 1 được tăng thêm 4 khẩu nguyên vẹn và cho đến ngày cuối cùng được thả xuống rất nhiều bộ phận thay thế khác), 1 đại đội pháo 155 ly (4 khẩu), 2 đại đội súng cối 120 ly (20 khẩu), 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng 18 tấn (10 chiếc M24 Chaffee của Mỹ), 1 đại đội xe vận tải 200 chiếc, 1 phi đội máy bay gồm 14 chiếc (7 máy bay khu trục, 6 máy bay liên lạc trinh sát, 1 máy bay lên thẳng). Lực lượng này gồm khoảng 16.200 quân được tổ chức thành 3 phân khu:

Bộ chỉ huy Cụm tác chiến Cứ điểm Tiểu đoàn Ghi chú
Binh đoàn tác chiến Tây Bắc
(Le Groupement Opérationnel du Nord-Ouest - GONO)
Chỉ huy trưởng: Đại tá Christian de Castries
Tham mưu trưởng: Trung tá Louis Guth
(sau lần lượt các Trung tá Keller, Ducroix, và cuối cùng là Hubert de Séguin-Pazzis)
Phân khu Bắc
Chỉ huy trưởng: Trung tá André Trancart
Anne-Marie
(Bản Kéo)
Tiểu đoàn Thái số 3
(3e bataillon thaï - BT 3)
Tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Léopold Thimonnier
 
Gabrielle
(Độc Lập)
Tiểu đoàn 5, Trung đoàn bộ binh thuộc địa Algérie số 7
(5e bataillon du 7e régiment de tirailleurs algériens - V/7e RTA)
Tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Roland de Mecquenem
(Thiếu tá Edouard Kah đang nhận bàn giao)
 
Phân khu Trung tâm
Chỉ huy trưởng: Trung tá Jules Gaucher
(Tử trận ngày 13/3, sau Trung tá Pierre Langlais kiêm thay).
Béatrice
(Him Lam)
Tiểu đoàn 3, Bán lữ đoàn Lê dương số 13
(3e bataillon de la 13e demi-brigade de Légion étrangère - III/13e DBLE)
Tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Paul Pégot
 
Claudine Tiểu đoàn 1, Bán lữ đoàn Lê dương số 13
(1er bataillon de la 13e demi-brigade de Légion étrangère - I/13e DBLE))
Tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá de Brinon
(sau Thiếu tá Robert Coutant thay)
 
Dominique Tiểu đoàn 3, Trung đoàn bộ binh thuộc địa Algérie số 3
(3e bataillon du 3e régiment de tirailleurs algériens - III/3e RTA)
Tiểu đoàn trưởng: Đại úy Jean Garandeau
 
Éliane Tiểu đoàn 1, Trung đoàn bộ binh thuộc địa Maroc số 4
(1er bataillon du 4e régiment de tirailleurs marocains - I/4e RTM)
Tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Jean Nicolas
 
Tiểu đoàn Thái số 2
(2e bataillon thaï - BT 2)
Tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Maurice Chenel
 
Huguette Tiểu đoàn 3, Trung đoàn bộ binh thuộc địa Algérie số 2
(1er bataillon du 2e régiment étranger d'infanterie - I/2e REI)
Tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Clémençon
 
Françoise Binh đoàn biệt kích cơ động Thái số 1
( 1er groupement mobile de partisans thaïs - GMPT 1)
Chỉ huy trưởng: Trung úy Réginald Wième
3 đại đội
Junon Cụm quân phụ lực Thái Trắng
(Compagnie de supplétifs "Thaïs Blancs")
Chỉ huy trưởng: Đại úy Michel Duluat
2 đại đội
Binh đoàn đổ bộ đường không số 2
Groupement Aéroporté 2 - GAP 2
Chỉ huy trưởng: Trung tá Pierre Langlais
Epervier Tiểu đoàn xung kích Dù số 8
(8e bataillon de parachutistes de choc - 8e BPC)
Tiểu đoàn trưởng: Đại úy Pierre Tourret
 
Tiểu đoàn hải ngoại Dù số 1
(1er bataillon étranger de parachutistes - 1er BEP)
Tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Maurice Guiraud
 
Tiểu đoàn bảo an Dù số 5
(5e bataillon de parachutistes vietnamiens - 5e BPVN)
Tiểu đoàn trưởng: Đại úy André Botella
 
Phân khu Nam
Chỉ huy trưởng: Trung tá André Lalande
Isabelle
(Hồng Cúm)
Tiểu đoàn 3, Trung đoàn bộ binh hải ngoại số 3
(3e bataillon du 3e régiment étranger d'Infanterie - III/3e REI)
Tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Henri Grand d'Esnon
 
Tiểu đoàn 2, Trung đoàn bộ binh thuộc địa Algérie số 1
(2e bataillon du 1er régiment de tirailleurs algériens - II/1er RTA)
Tiểu đoàn trưởng: Đại úy Pierre Jeancenelle
 
Pháo binh
Chỉ huy trưởng: Trung tá Charles Piroth
(Tự sát ngày 15/3, Trung tá Guy Vaillant lên thay)
Cụm A
(Groupement A)
Chỉ huy trưởng: Thiếu tá Alliou
* 12 đại bác 105 mm M2A1
* 20 cối 120 mm
 
Cụm B
(Groupement B)
Chỉ huy trưởng: Thiếu tá Paul Knecht
* 4 đại bác 155 mm M114
* 12 đại bác 105 mm M2A1
* 8 cối 120 mm
* 4 đại liên hạng nặng 12,7mm 4 nòng Quad-50 M2
 
Thiết giáp
Chỉ huy trưởng: Đại úy Yves Hervouët
Chi đội thiết giáp 10 xe tăng hạng nhẹ M24 Chaffee  
Tăng viện Ngày 16 tháng 3 Tiểu đoàn Dù thuộc địa số 6
(6e bataillon de parachutistes coloniaux -6e BPC)
Tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Marcel Bigeard
 
Ngày 4 tháng 4 Tiểu đoàn 2, Trung đoàn khinh quân Dù số 1
(2e bataillon du 1er régiment de chasseurs parachutistes - II/1er RCP)
Tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Jean Bréchignac
 
Ngày 12 tháng 4 Tiểu đoàn Dù hải ngoại số 2
(2e bataillon étranger de parachutistes - 2e BEP)
Tiểu đoàn trưởng: Thiếu tá Hubert Liesenfelt
 
Ngày 1 tháng 5 Tiểu đoàn Dù thuộc địa số 1
(1er bataillon de parachutistes coloniaux - 1er BPC)
Tiểu đoàn trưởng: Đại úy Guy Bazin de Bezons
2 đại đội

Tổng cộng tất cả là 10 trung tâm đề kháng được đặt theo tên phụ nữ Pháp: Gabrielle (Bắc), Béatrice, Dominique (Đông), Eliane, Isabelle (Nam), Junon, Claudine, Françoise (Tây), Huguette và Anne Marie. 10 trung tâm đề kháng lại chia ra thành 49 cứ điểm phòng thủ kiên cố liên hoàn trang bị hỏa lực mạnh yểm trợ lẫn nhau; có 2 sân bay: Mường Thanh và Hồng Cúm để lập cầu hàng không. Tổng công quân Pháp ban đầu có hơn 10.800 quân, cùng với đó là 2.150 lính phụ lực bản xứ và QGVN. Trong trận đánh có thêm hơn 4.300 lính (trong đó có 1.901 lính phụ lực bản xứ) được tiếp viện cho lòng chảo. Đại tá Christian de Castries (trong thời gian chiến dịch được thăng hàm Chuẩn tướng) là chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm.

Hỏa lực pháo binh được bố trí thành hai căn cứ: một ở Mường Thanh, một ở Hồng Cúm, có thể yểm trợ lẫn cho nhau, và cho tất cả các cứ điểm khác mới khi bị tiến công. Ngoài hỏa lực chung của tập đoàn cứ điểm, mỗi trung tâm đề kháng còn có hỏa lực riêng, bao gồm nhiều súng cối các cỡ, súng phun lửa, và các loại súng bắn thẳng bố trí thành hệ thống vừa tự bảo vệ, vừa yểm hộ cho những cứ điểm chung quanh.

Đường bay yểm trợ không quân của Pháp

Hỗ trợ cho Điện Biên Phủ là lực lượng không quân Liên hiệp Pháp, và không quân dân sự Mỹ. Tổng cộng Pháp huy động 100 máy bay C-47 Dakota, cộng thêm 16 máy bay C-119 của Mỹ. Máy bay ném bom gồm 48 chiếc B-26 Invader, 8 oanh tạc cơ Privater. Máy bay cường kích gồm 227 chiếc F6F Hellcat, F8F BearcatF4U Corsair.[15]. Điện Biên Phủ có hai sân bay. Sân bay chính ở Mường Thanh, và sân bay dự bị ở Hồng Cúm, nối liền với Hà Nội, Hải Phòng bằng một cầu hàng không, trung bình mỗi ngày có gần 100 lần chiến máy bay vận tải tiếp tế khoảng 200 - 300 tấn hàng, và thả dù khoảng 100 - 150 tấn.

Tất cả các khẩu pháo 155mm và 105mm và tất cả đạn dược của Pháp đều được đưa từ Mỹ tới. Ngày 22 tháng 3, Tổng thống Mỹ Eisenhower chỉ thị cho Hội đồng tham mưu trưởng liên quân phải giải quyết cấp tốc các yêu cầu của Navarre.