Đại Từ Quê Tôi

Lịch

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang web Đại Từ Tin Tức được mở ra có ý nghĩa gì?
Rất hữu ích cho người Đại Từ
Là địa chỉ tôi thường truy cập
Khá thú vị đối với tôi.
Tôi luôn ủng hộ trang web
Tôi muốn làm cộng tác viên với trang web Đại Từ Tin Tức

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    VOC_VUI_veduyen.swf Bay_giua_ngan_ha.swf TINHMEMT2.swf Tracnghiem8anhhk1new.swf

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Thời tiết Thái Nguyên

    Chào mừng quý vị đến với website của Chè Xanh Thái Nguyên

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Bài viết đầu tay >

    Tiếng đồng gọi - Bút ký của Nguyễn Thị Sáu

     Vào ngày thu tháng 10, tôi có cuộc hành trình trở về thăm quê. Con đường đen ngòm uốn lượn giữa điệp trùng than, đá và xít ngoằn ngoèo dẫn tôi về làng. Kia rồi! Ranh giới chỉ là một con suối nhỏ, một chiếc cầu có tên gọi là cầu Địa Chất. Qua cầu là làng tôi đó. An Khánh, một xã nông nghiệp có tổng diện tích đất tự nhiên là 14,46 km2 và hơn 1.700 hộ dân sinh sống, trong đó tổng diện tích đất nông nghiệp là 372,75 ha chủ yếu trồng lúa, chè và rau màu. Nằm cuối, thuộc phía đông của huyện Đại Từ, tựa lưng vào núi, phía trước là một lưu vực của suối Phượng Hoàng, một phụ lưu nhỏ của Sông Cầu chảy vòng quanh như cánh tay vòng ôm lấy xã An Khánh. Chếch phía đông bắc bên kia suối là huyện Phú Lương. Chếch hướng nam là xã Phúc Hà thuộc thành phố Thái Nguyên. Nơi đây một con gà gáy cả ba huyện cùng nghe.

    dscn5317

     

    Thời gian qua công việc đã cuốn tôi vào nhịp sống hối hả của người thành phố. Nay về làng tôi như được trở về chiếc nôi thuở nhỏ, mong tìm lại cánh cò trong lời ru ngọt ngào của mẹ, mong được tắm mình trong không khí thuần khiết của làng quê. Giống như ai đó đi xa, mỗi khi nhớ về quê hương, hình ảnh cánh đồng với màu xanh mượt của lúa trải mềm tận chân làng, có con sáo đen mỏ vàng làm tổ trên cột điện, chiều về nhảy nhót trên lưng trâu thật yên bình, tôi ngửa mặt hít một hơi thật sâu, để hương quê đơm căng lồng ngực cho thật đã những ngày xa cách.

    Trời! Thật bất ngờ đến kỳ lạ. Hương quê không còn ngọt ngào như tôi tưởng mà xông thẳng vào mũi tôi là cái mùi hăng hắc, nồng nồng của bụi than và bụi xít. Dừng xe lại, tôi không khỏi bàng hoàng khi thấy mình đang đứng dưới chân núi thải khổng lồ, trên đỉnh bãi thải cao chót vót kia, những chiếc xe ủi to cứ liên tục di chuyển, bụi xít mịt mù như mây. Khi xưa nơi này là cánh đồng Trằm của xóm Ngò, một năm hai vụ lúa tốt tươi được xem là vựa lúa của xã An Khánh, giờ đây hình ảnh cánh đồng mênh mông trải vàng dưới hai hang cột điện không còn nữa do sự biến động về công nghiệp nên cánh đồng xã An Khánh đang bị kẹt giữa mỏ than Khánh Hòa và mỏ than Bá Sơn gây ra không ít những khó khăn. Khai thác than ở độ sâu gây cạn kiệt nguồn nước ngầm, cánh đồng khô hạn, nứt nẻ, năng suất kém, đời sống bà con đang từng ngày bị ảnh hưởng. Phía trước mặt tôi là xóm Tân Binh, đây đó trên cánh đồng hiện lên vài cỗ máy khoan cao ngất. Xình xịch …đều đều…, một âm  thanh làm mất đi sự tĩnh lặng của cánh đồng. Mấy công nhân mặt nhọ nhem đang vây quanh những chiếc ống khoan to có đường kính 20cm dài khoảng vài m, xếp thành đống cao ngất, tôi nhìn những chiếc ống khoan, nhìn những thửa ruộng tội nghiệp chẳng hiểu dưới đó có gì mà chỗ kia, chỗ này…. Khắp cánh đồng quê tôi đã và đang để lại những vết tích trong lòng đất sâu có tới hơn nghìn m, ruộng cứ mỗi ngày một nứt nẻ rồi mất dần nhường chỗ cho những bãi thải xit khổng lồ cứ ùn ùn mọc lên uy hiếp những cây lúa mảnh mai còn lại đang cố gồng mình vươn lên trong nỗi sợ hãi chuyển rung từ lòng đất sâu.

    img_0082

     

    Xuôi dọc bờ mương khô cạn, tôi trở về thăm lại phần mộ của cha mẹ tôi nằm dưới  chân núi Bục. Tôi nhớ đến mấy người bạn thưở chăn trâu cắt cỏ ngày nào. Con đường trải từ trường THCS An Khánh về giáp đất xóm Ngò, cánh đồng đã thu hẹp nhường chỗ cho công ty khai khoáng Miền Núi mọc lên. Đường vào nhà mấy bạn tôi hoang vắng, cúc dại chờm cả lối đi, cây thành ngạnh già đã từng chứng kiến tuổi thơ tôi giờ vẫn đứng ở ven đồi lặng im buồn bã, trên tán lá xác xơ chẳng còn thấy bóng một con ve sầu đít đỏ nào. Cái Hoa, thằng Hồng, thằng Quyền…, chúng nó giờ đâu cả rồi? Nghe nói, Hồng đã bán nhà đưa cả gia đình chuyển vào miền Nam. Thằng Quyền cũng bỏ vườn hoang theo quê vợ. Còn gia đình Hoa thì cũng rời quê vào Đắk Nông sinh sống. Tôi bước đi trong dòng suy nghĩ miên man. Một cơn gió hững hờ lướt qua, phả lại đằng tôi những nỗi buồn phảng phất. Cánh đồng còn đây, lối cũ còn đây, nơi đã gắn bó tuổi thơ tôi với bao kỷ niệm vui buồn cùng với con cua, con ốc… Ký ức đang lần về theo từng bước chân tôi.

    Cánh đồng ngày ấy và những cơn mưa rào đầu mùa hạ khi nước Sông Cầu dâng lên qua các phụ lưu tràn vào những mương nhỏ trên đồng, đây đó lũ cá chép lắc mình vật đẻ, bọn cá rô tung tẩy ngược dòng. Tôi nhớ cha và nhớ cả những chiếc đó đầy ắp cá của ông. Nhớ món cá đồng kho tương với lá nghệ thơm lừng của mẹ. Nhớ những trưa tháng sáu, tôi trốn mẹ ra đồng. Nhớ cả hương bùn nồng vẫn thường trốn cha theo bàn chân tôi vùi vào giấc ngủ. Nhớ vụ cấy năm ấy, các cô trong mải thợ cấy của mẹ cuốn xà cạp qua đầu gối lội bì bõm dưới ruộng, cắm mạ thoăn thoắt chuyện trò rôm rả quên cả trưa. Lúc lên bờ, còn không quên mang về mỗi người một vốc cua gói trong xà cạp nữa… Đó là chuyện ngày ấy, còn bây giờ, tôi đang bước trên những thửa ruộng nứt nẻ khô cạn, cánh đồng đang oằn trong cơn khát, những bông lúa lưa thưa chỗ xanh chỗ vàng, chỗ thì khô cháy cứ  héo dần như không còn nhựa sống.

    Tạm biệt cánh đồng Bục khô hạn tôi đến xóm Ngò, tìm vào nhà Phấn, cô bạn học thời phổ thông. Chồng Phấn là anh Vũ Văn Tính. Thấy tôi đến, vợ chồng Phấn vui lắm, vội sai con đi bắt gà làm cơm. Anh Tính ra hiệu cho Phấn đi mua thêm đồ ăn, thấy tôi ngại ngùng, Phấn xua tay nói: "Đừng ngại, mình chỉ ra cổng thôi không phải đi chợ đâu” - Tôi bảo Phấn: “Quê mình giờ đô thị hóa rồi, hàng quán phục vụ tận cổng sướng quá còn gì?” Phấn khẽ lắc đầu: “Không hẳn vậy đâu, bà con ít ruộng, được chút tiền đền bù cũng muốn xoay nghề mở hàng quán bán kiếm chút ít nhưng không ăn thua, chỉ là mấy nhà phục vụ lẫn nhau thôi, chứ không thể mở rộng thông thương buôn bán lớn được, nên đời sống vẫn còn vất vả lắm bạn ạ.” Nói rồi Phấn vụt ra cổng.

     

     

     

    Trở vào nhà, anh Tính pha ấm trà nóng mời tôi. Thấy tôi xa quê lâu ngày cái gì cũng đăm đắm nhìn nên anh say sưa kể cho tôi nghe về sự đổi thay của quê nhà, về những sự kiện đã và đang xảy ra  tại xóm Ngò, về những thửa ruộng của bà con trong diện được Mỏ than Khánh Hòa đền bù. Thực ra số tiền được đền bù và những diện tích bị lấy đi không phải nhỏ với mỗi gia đình nông dân, nhưng những hệ lụy cho môi trường và những diện tích còn lại cũng không hề ít. Anh dẫn tôi đi thăm quanh nhà và chỉ cho tôi xem  nhà xưởng làm mì của gia đình. Để có đủ nước phục vụ sản xuất, anh phải khoan tới bảy cái giếng, cái nào cũng sâu đến 50 mét mà vẫn không có giọt nước nào. Trước đây, đã có lúc anh phải đóng xưởng vì tất cả giếng và ao chuôm trong làng, chỗ nào cũng cạn khô. Thiếu nước trầm trọng khiến cuộc sống vô cùng khó khăn, gây cho dân nhiều bức xúc. Sau nhiều lần bàn cãi, bà con đã tập hợp ý kiến, kiến nghị với Mỏ Khánh Hòa và đã được hỗ trợ mười hai nghìn năm trăm đồng một đầu người trên một ngày để mua nước do Công ty cấp nước sạch đến tận nhà bán cho bà con. Tiếp đó, Mỏ còn xây cho bà con một kênh mương dẫn nước từ suối về làng để phục vụ cấy trồng. Tuy nhiên, hiện tại thì cánh đồng vẫn chịu cảnh khô hạn bởi vào mùa khô suối cũng cạn  không có đủ nước phục vụ cho toàn bộ cánh đồng. Anh cho tôi biết, cánh đồng Bục hiện nay, lác đác vài chỗ đang có những vệt nứt sâu hơn những vệt nứt bình thường, gây hoang mang cho những người dân có ruộng và đang sinh sống tại đây. Theo lời anh Tính, thì nhà anh cũng như toàn bộ cánh đồng Bục, chưa có thửa nào nằm trong diện đền bù, nhưng hiện tượng khai thác chỗ này lại làm khô hạn vùng kia là một thực tế  đang diễn ra trên địa bàn, làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người dân nơi đây. Tôi hỏi anh: “ Nghe nói rồi đây An Khánh sẽ trở thành khu công nghiệp, bà con xóm Ngò và các xóm lân cận không những không còn ruộng mà kể cả nhà cũng phải di dời đi nơi khác. Anh nghĩ sao về chuyện này? Anh có muốn đổi toàn bộ đất để rồi mình được nhận tiền đền bù không? ”. Giọng anh lắng lại: “Thú thật, mình được sinh ra ở đây, sướng khổ quen rồi, giờ họ cho tiền cũng chẳng biết đi đâu, làm gì? Chuyển đi nơi khác thì số tiền đền bù cũng chỉ đủ mua đất, nếu làm được nhà thì cũng hết vốn làm ăn, còn ở lại thì biết đầu tư cái gì trên mảnh đất không có nước này’’. Nén tiếng thở dài, nhấp một hớp nước chè rồi anh tiếp: “Nói là nói vậy thôi, chứ thực tế thì đằng nào cánh đồng giờ cũng đã cạn nứt, đời sống của mình và bà con không thể trông chờ vào cánh đồng được nữa. Đã đến nước này thì thà chúng tôi mong Mỏ đền bù cho sớm càng tốt để còn lo liệu cuộc sống. Lâu nay, chúng tôi dù có tiền cũng không dám xây nhà ở kiên cố, vì trong tình trạng Mỏ khai thác như hiện nay, không có gì đảm bảo an toàn lâu dài cho người dân”.

     

     

    img_0083

                         Một phía cánh đồng An Khánh. Ảnh: daitutintuc.violet.vn


    Câu chuyện của anh Tính cuốn tôi vào cái vòng xoáy đầy mâu thuẫn. Tôi đã có lần được trao đổi cùng với hai vị Phó chủ tịch UBND xã An Khánh là ông Lưu Nghĩa Mạnh và bà Nguyễn Thị Oanh, được biết hiện có bốn nhà máy đã và đang xây dựng trên địa bàn xã, đó là: Xi măng Quán Triều có diện tích là 17,2ha; Nhiệt điện An Khánh: 28,4ha; Mỏ than Khánh Hoà: 49,47ha; Công ty khai khoáng Miền Núi: 4,3ha. Con số thống kê về tổng diện tích  đất đã và đang tiếp tục chuyển đổi giải phóng mặt bằng để xây dựng các nhà máy công nghiệp trên địa bàn xã có tổng diện tích là: 99,37ha tương đương với 1/4 của tổng diện tích đất nông nghiệp là 372,75ha, trong số đó  riêng mỏ than Khánh Hòa chiếm tới 49,47ha. Từ con số trên, ta thấy diện tích đất còn lại không được đền bù mà vẫn chịu sự ảnh hưởng khô hạn là không nhỏ. Mặc dù mỏ Khánh Hòa đã cấp nước sạch, lại thêm số tiền hỗ trợ mua nước, bà con cũng tạm đủ nước sinh hoạt. Nhưng cái khó là với nghề làm ruộng, nước máy sao đủ để cấy đây, khi con suối và con mương kia vẫn trơ lòng ra vì khô hạn? Bà Oanh cho biết, Mỏ đã hứa sẽ hỗ trợ đền bù từ 30 đến 40% trên sản lượng lúa của khu vực và sẽ đầu tư xây một khu dành riêng cho những lao động dôi dư trên địa bàn xã làm việc, nhưng đến giờ phút này bà con vẫn chưa hề nhận được sự ưu đãi đó(!). Và theo ông Mạnh cho biết thì, số dân trong độ tuổi dôi dư trên địa bàn là hơn 1000 người, chiếm hơn 1/3 tổng số dân của xã. Số còn lại là những lao động chính, gánh nặng gia đình trên cả đôi vai, mà trong số họ có tới 90% là tự vận động  kiếm việc làm, nay đây, mai đó chủ yếu hành nghề xây dựng. Những nông dân được ký nhận hợp đồng lao động với các nhà máy công nghiệp trên địa bàn xã là không đáng kể, chỉ có một số ít thanh niên nam, riêng mỏ Khánh Hòa lại không nhận ký hợp đồng với lao động nữ.

     

    dscn5305

     

    Tôi đang mung lung với dòng suy nghĩ về những biến động trên quê mình. Đât nước đang trên đà phát triển, quê mình ắt phải đổi thay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng là lẽ đương nhiên. Nhưng liệu sự xuất hiện những nhà máy công nghiệp trên địa bàn có thực sự đem lại niềm vui cho những người nông dân quê tôi? Tôi nghĩ về những người bạn của mình, hiện giờ mỗi đứa một phương, lưu lạc nơi đất khách quê người tận miền Nam xa xôi, tận ĐắkNông heo hút để mưu sinh. Phải chăng, đó cũng là một nguyên nhân do sự ảnh hưởng của môi trường và cuộc sống hiện tại đang biến động từng ngày trên quê hương mình, khiến những người nông dân nơi đây bất đắc dĩ phải bỏ làng ra đi?

    Chia tay gia đình Phấn, chia tay xóm Ngò, tạm biệt xã An Khánh bé nhỏ, mà lòng ngổn ngang tâm trạng…? Cảm xúc buồn và vui cứ lẫn lộn trong tôi. Tôi nghĩ về ngày mai. Đất nước mình sẽ phát triển, quê hương mình sẽ đổi mới, An Khánh sẽ trở thành cụm công nghiệp lớn của tỉnh nhà, góp phần làm giầu cho đất nước, đó cũng là niềm vui đáng tự hào biết bao. Nhưng lòng tôi vẫn chạnh buồn, vì cho dù ngày mai An Khánh có trở thành cụm công nghiệp lớn chăng nữa thì hiện tại người dân quê tôi vẫn đang là những người nông dân. Thử hỏi những cánh đồng khô hạn kia, những tâm trạng lo âu của bao người đang thấp thỏm trông đợi kia rồi sẽ đi về đâu?

    Xình xịch …xình…xịch… dung từ lòng đất. Trong cái âm thanh hỗn độn đêm ngày, tôi nghe đâu đó có tiếng vọng…. Tiếng vọng của cánh đồng.

     

    Ngày 08 Tháng 10 năm 2012

          Nguyễn Thị Sáu

                                 Dự thi Sáng tác văn học về đề tài “Nông nghiệp-nông dân-nông thôn”                                                                                                             

                      Nguồn: Văn Nghệ Thái Nguyên


    Nhắn tin cho tác giả
    Đại Từ Tin Tức @ 23:28 15/04/2014
    Số lượt xem: 617
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Video-Clip-Phim

    Lịch phát sóng TV

    Thời tiết Thái Nguyên